Để đọc bản vẽ nội thất, gia chủ chỉ cần nắm bốn thứ: tỷ lệ và đơn vị (thường là milimét), cách bản vẽ chỉ hướng nhìn (mũi tên mặt đứng, đường cắt), vài ký hiệu hay gặp (cửa mở, ổ cắm, công tắc, đèn, cao độ), và thói quen đọc chéo giữa các tờ. Không cần vẽ được, chỉ cần kiểm được: cánh tủ có mở hết không, ổ điện có bị che không, trần có đủ cao không.
Bài này giải thích từng loại tờ theo thứ tự bạn sẽ gặp trong hồ sơ, kèm cách tự kiểm vài lỗi phổ biến nhất. Ký hiệu có thể khác chút ít giữa các đơn vị; tờ chú giải ở đầu hồ sơ luôn là nơi tra đầu tiên.
Tỷ lệ và đơn vị: đọc số, đừng đo trên giấy
Bản vẽ nội thất thường vẽ mặt bằng ở tỷ lệ một phần năm mươi hoặc một phần một trăm, mặt đứng tủ ở tỷ lệ một phần hai mươi hoặc một phần hai mươi lăm, chi tiết ở tỷ lệ lớn hơn. Tỷ lệ một phần năm mươi nghĩa là một centimét trên giấy ứng với năm mươi centimét thật. Nhưng bản in có thể bị co giãn khi in khổ khác, nên quy tắc an toàn là đọc con số ghi trên đường kích thước, không lấy thước đo trên giấy rồi nhân lên.
Đơn vị trong bản vẽ nội thất gần như luôn là milimét, kể cả khi không ghi. Con số 2400 trên một tủ áo nghĩa là hai mét bốn, 600 nghĩa là sáu mươi centimét. Cao độ, tức độ cao so với mặt sàn hoàn thiện, đôi khi được ghi bằng mét với ký hiệu dấu cộng, ví dụ +2.700 cho trần. Gia chủ nên hỏi rõ mốc không của cao độ là sàn thô hay sàn đã lát, vì chênh lệch vài centimét đủ làm tủ chạm trần.
Có hai loại kích thước dễ nhầm: kích thước tim tường (đo từ giữa tường) dùng trong bản vẽ kiến trúc, và kích thước thông thủy (đo từ mặt tường hoàn thiện này đến mặt kia) là thứ nội thất cần. Bản vẽ nội thất nên ghi thông thủy; nếu thấy số không khớp với đo thực tế, đó có thể là do lẫn hai loại này.
Những ký hiệu gặp nhiều nhất trên mặt bằng
Cửa đi và chiều mở. Vẽ bằng một đoạn thẳng cho cánh và một cung tròn cho đường quét. Cung tròn cho biết vùng sàn phải để trống; đồ đặt trong cung đó là cửa không mở hết. Cửa trượt vẽ bằng hai đoạn song song lệch nhau.
Mũi tên chỉ mặt đứng. Thường là một hình tròn hoặc tam giác có số, đặt giữa phòng, mũi tên chỉ về bức tường nào thì mặt đứng số đó là bức tường ấy. Đây là cách bạn tìm tờ mặt đứng tương ứng với một bức tường cụ thể.
Đường cắt. Một đường nét đứt đậm có ký hiệu ở hai đầu, cho biết bản vẽ mặt cắt được lấy qua đâu và nhìn về hướng nào. Mặt cắt cho thấy những gì không thấy được từ trên xuống: độ sâu tủ, độ dày trần, khe đèn.
Ký hiệu điện. Ổ cắm, công tắc, ổ mạng, ổ tivi, đèn âm trần, đèn ốp, đèn hắt mỗi loại có hình riêng; bảng chú giải ghi ý nghĩa. Bên cạnh ký hiệu thường có con số cao độ lắp đặt.
Nét liền, nét đứt, nét mảnh. Nét liền đậm là tường bị cắt qua, nét mảnh là đồ đạc nhìn thấy, nét đứt thường là thứ nằm phía trên mặt cắt (tủ treo, dầm, trần) hoặc bị che khuất. Đọc nét đứt giúp phát hiện dầm chạy ngang chỗ định đặt tủ cao.
Mặt bằng trần và mặt bằng điện: hai tờ hay bị bỏ qua
Mặt bằng trần nhìn như mặt bằng thường nhưng thể hiện những gì ở trên đầu: các ô trần với cao độ khác nhau, hộp trần che dầm hoặc ống, khe hắt sáng, cửa gió điều hoà, cửa thăm trần, vị trí đèn. Khi đọc, bạn tìm chỗ trần thấp nhất và hỏi nó rơi vào đâu. Nếu chỗ trần hạ thấp để giấu ống điều hoà lại trùng với lối đi hay trên đầu giường, cảm giác bí bách sẽ rõ hơn nhiều so với khi nó nằm trên tủ áo.
Mặt bằng điện gồm vị trí ổ cắm, công tắc, đèn và đôi khi là đường nối nhóm đèn với công tắc. Cách kiểm hiệu quả là "đi thử" trên giấy: bước vào cửa phòng, tay phải hay tay trái gặp công tắc? Nằm trên giường có tắt được đèn không? Ngồi bàn làm việc, ổ cắm ở đâu, có bị chân bàn che không? Đặt nồi cơm, ấm nước ở đâu trên mặt bếp và ổ cắm có ở đó không?
Cao độ ổ cắm là chi tiết nhỏ mà quan trọng. Ổ cạnh giường nên cao hơn mặt tab đầu giường một chút; ổ sau kệ tivi nên nằm khuất sau thiết bị; ổ trên mặt bếp nên tránh ngay sau bếp nấu và chậu rửa. Các mức cụ thể là tham khảo và phụ thuộc kích thước đồ; điều cần là con số được ghi trên bản vẽ chứ không để thợ tự chọn.
Đọc mặt đứng tủ: chia khoang, chia cánh và tay nắm
Mặt đứng tủ là bản vẽ nhìn thẳng vào tủ như khi bạn đứng trước nó. Một mặt đứng tốt thể hiện cả khi cánh đóng (để thấy chia cánh, tay nắm) và một hình mở cánh hoặc hình bên trong (để thấy chia khoang: thanh treo, đợt, ngăn kéo, khoang để chăn). Kích thước tổng ghi ở ngoài cùng, kích thước từng khoang ghi ở trong.
Đọc mặt đứng tủ áo, bạn kiểm ba điều theo thói quen của chính nhà mình. Thứ nhất, chiều cao thanh treo có đủ cho váy dài, áo khoác dài không, hay chỉ có hai tầng treo áo sơ mi. Thứ hai, ngăn kéo có bị cánh tủ chặn khi kéo ra không, nhất là với cánh mở có bản lề nằm sát ngăn kéo. Thứ ba, khoang trên cùng sát trần có với tới được không, và để làm gì; nếu chỉ để chăn mùa đông thì nên có cánh riêng.
Với tủ bếp, kệ tivi, tủ giày, câu hỏi cũng tương tự: độ cao từng tầng có vừa đồ thật của bạn không. Mang một vài món cao nhất (chai dầu ăn, máy xay, đôi bốt) ra đo và so với mặt đứng là cách nhanh nhất để thấy khoang nào chật. Tay nắm cũng nên xem trên mặt đứng: loại âm, loại nổi, hay nhấn mở; vị trí có thuận tay người dùng chính không.
Mặt cắt và chi tiết: nơi chất lượng hoàn thiện được quyết định
Mặt cắt là hình tưởng tượng khi cắt ngang một vật rồi nhìn vào lát cắt. Qua mặt cắt một tủ áo, bạn thấy độ sâu tủ, độ dày cánh, khoảng hở giữa hậu tủ với tường, cách tủ gặp trần (có tấm nẹp che khe không), chân tủ nâng hay đặt sát sàn. Qua mặt cắt trần, bạn thấy chiều cao khe hắt sáng, vị trí dây đèn, độ thụt của hộp trần.
Chi tiết là phần phóng to những chỗ khó: liên kết hai tấm ở góc, nẹp kết thúc giữa sàn gỗ và gạch, khe giữa mặt đá bếp và tường, cách giấu dây đèn trong tủ. Đây là nơi hai sản phẩm trông giống nhau từ xa có thể khác nhau hoàn toàn khi nhìn gần. Gia chủ không cần đánh giá kỹ thuật của từng chi tiết, nhưng nên hỏi: chỗ này hoàn thiện ra sao, nhìn thấy gì khi đứng gần, lau chùi có dễ không.
Nếu hồ sơ có phối cảnh đẹp ở một góc nào đó mà không có mặt cắt, chi tiết tương ứng, đó là góc dễ ra kết quả khác hình nhất. Đề nghị bổ sung trước khi thi công là cách rẻ nhất để giữ đúng ý.
Bếp và phòng tắm: những con số nên tìm thấy trên bản vẽ
Bếp và phòng tắm là hai nơi mà vài centimét quyết định sự thoải mái hằng ngày. Khi đọc bản vẽ hai khu này, bạn tìm xem các con số sau đã được ghi chưa. Mức trong ngoặc là tham khảo thường gặp, cần chỉnh theo chiều cao người dùng chính và thiết bị thật:
| Vị trí | Con số cần có | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
| Mặt bếp | Chiều cao mặt bàn bếp (thường quanh mức ngang thắt lưng người nấu chính) | Thấp quá thì mỏi lưng, cao quá thì mỏi vai khi thái, khuấy |
| Tủ bếp trên | Khoảng cách từ mặt bếp lên đáy tủ trên | Quá gần thì vướng đầu và vướng nồi cao; quá xa thì không với tới đợt trên |
| Máy hút mùi | Khoảng cách từ mặt bếp nấu lên máy | Theo hướng dẫn của nhà sản xuất thiết bị; bản vẽ nên ghi đúng con số đó |
| Lavabo | Chiều cao mặt lavabo, khoảng trống hai bên | Ảnh hưởng tư thế khi rửa mặt và chỗ đặt đồ |
| Gương, đèn gương | Cao độ mép dưới, mép trên gương và đèn | Người cao, người thấp trong nhà đều soi được |
| Sen tắm, vòi, hốc kệ | Cao độ tay sen, vòi trộn, đáy hốc | Với tay được mà không phải bước vào vùng nước lạnh khi vừa mở |
Nếu bản vẽ chỉ có hình mà không có các con số này, bạn đang để thợ quyết định theo thói quen. Thói quen ấy không sai, nhưng có thể không hợp với người cao một mét bảy hay người lớn tuổi trong nhà. Đề nghị ghi số cụ thể trước khi thi công điện nước, vì sau khi ốp lát thì đổi rất tốn.
Năm lỗi gia chủ có thể tự phát hiện trên bản vẽ
Đọc chéo giữa các tờ là cách bắt lỗi hiệu quả nhất. Lấy mặt bằng bố trí làm gốc, rồi lần lượt so với các tờ còn lại theo năm bước:
- So mặt bằng bố trí với mặt bằng điện: mỗi ổ cắm, công tắc có rơi vào sau lưng tủ, giường, sofa không.
- So mặt bằng bố trí với mặt bằng trần: đèn chính có nằm giữa vùng sử dụng (giữa bàn ăn, giữa sofa) hay nằm giữa phòng một cách máy móc.
- So mặt đứng tủ với chiều cao trần trên mặt cắt: tủ cao cộng với khe kỹ thuật có vừa dưới dầm không.
- So cung mở cửa với vị trí đồ: cánh cửa phòng, cửa tủ, cửa ban công có quét vào giường, ghế, tab không.
- So phối cảnh với bản vẽ thi công: mọi món đồ, mọi khe đèn có trong hình đều có bản vẽ tương ứng.
Ghi các điểm phát hiện thành danh sách đánh số, chụp kèm vị trí trên bản vẽ và gửi một lần. Một buổi đọc kỹ như vậy thường mất vài giờ nhưng có thể tránh được việc đục tường hay đóng lại tủ về sau.
Câu hỏi thường gặp
Không có phần mềm vẽ thì xem bản vẽ bằng gì?
Bản PDF mở được trên điện thoại và máy tính; nên xem trên màn hình lớn để đọc số. Tốt nhất là in khổ lớn một bộ để đánh dấu bằng bút. File gốc chỉ cần khi muốn chỉnh sửa, gia chủ thường không cần.
Kích thước trên bản vẽ khác với đo thực tế thì tin cái nào?
Tin số đo thực tế, rồi yêu cầu cập nhật bản vẽ. Chênh lệch thường do bản vẽ dựa trên hồ sơ cũ hoặc do sàn, trần được làm sau. Với đồ đóng, luôn đo lại tại hiện trường trước khi sản xuất.
Mặt đứng và phối cảnh khác nhau thì làm theo cái nào?
Thông lệ là bản vẽ kỹ thuật có giá trị thi công, phối cảnh để minh hoạ. Nhưng nếu bạn đã duyệt theo phối cảnh, cần yêu cầu sửa mặt đứng cho khớp trước khi làm. Ghi rõ trong hợp đồng thứ tự ưu tiên giữa các loại tài liệu.
Cao độ ổ cắm bao nhiêu là chuẩn?
Không có một số chung cho mọi nhà; nó tuỳ đồ đặt trước ổ cắm và thói quen sử dụng. Các mức thường gặp chỉ để tham khảo. Điều quan trọng là bạn biết ổ ấy để làm gì và đồ nào đứng trước nó, rồi đề nghị con số phù hợp.
Bản vẽ có ghi vật liệu không hay chỉ có hình?
Bản vẽ thi công tốt có ghi chú vật liệu trên từng mặt hoặc mã tham chiếu tới bảng vật liệu. Nếu chỉ có hình và kích thước, bạn cần một bảng vật liệu riêng; thiếu nó thì báo giá và nghiệm thu đều khó.
Có nên nhờ thợ đọc bản vẽ cùng không?
Rất nên, nhất là thợ sẽ trực tiếp làm. Thợ thường phát hiện chỗ khó thi công hoặc chưa đủ thông tin mà người vẽ bỏ sót. Ghi lại các góp ý đó và chuyển cho nhà thiết kế xử lý trước khi khởi công.