Một báo giá thi công nội thất đáng tin phải tách theo hạng mục, mỗi dòng có khối lượng, đơn vị tính rõ ràng và mô tả vật liệu đủ để kiểm được (loại lõi, độ dày, bề mặt, phụ kiện), kèm các khoản thường bị bỏ sót như vận chuyển, lắp đặt, tháo dỡ, bảo vệ công trình và thuế. Báo giá chỉ có tên món và tổng tiền thì không so được, không nghiệm thu được và là nguồn của phần lớn phát sinh.
Bài này không đưa con số giá nào, vì giá thay đổi theo thời điểm, khu vực và vật liệu. Mục tiêu là giúp bạn đọc cấu trúc báo giá, quy hai báo giá về cùng mặt bằng để so, và biết hỏi lại những gì trước khi ký.
Cấu trúc một báo giá tốt trông như thế nào
Báo giá tốt thường chia theo không gian (phòng khách, bếp, phòng ngủ một, phòng ngủ hai) hoặc theo nhóm công việc (đồ gỗ, trần, sơn, sàn, điện, thiết bị). Trong mỗi nhóm, mỗi dòng là một món hoặc một công việc với năm cột: tên hạng mục, mô tả vật liệu và quy cách, đơn vị tính, khối lượng, đơn giá và thành tiền. Cuối báo giá là các khoản chung, tổng cộng, thuế nếu có, thời hạn hiệu lực và điều kiện áp dụng.
Dấu hiệu của một báo giá được lập cẩn thận là nó tham chiếu tới bản vẽ: dòng "tủ áo phòng ngủ một" ghi kèm số tờ mặt đứng tương ứng. Khi đó mọi kích thước dùng để tính khối lượng đều có nguồn, và bạn có thể tự kiểm phép nhân.
Ngược lại, báo giá chỉ ghi "trọn gói nội thất căn hộ" với một con số, hoặc chỉ liệt kê tên món mà không có kích thước, là báo giá dựa trên ước lượng. Nó có thể vẫn trung thực, nhưng bạn không có cách nào biết mình đang trả cho cái gì. Trước khi so giá, hãy đề nghị các bên báo giá lại theo cùng cấu trúc và cùng bộ bản vẽ.
Đơn vị tính: mỗi loại có cái bẫy riêng
Cùng một tủ có thể được tính theo nhiều cách. Không cách nào sai, nhưng mỗi cách cần một câu hỏi đi kèm để tránh hiểu lầm:
| Đơn vị | Thường dùng cho | Câu cần hỏi |
|---|---|---|
| Mét dài | Tủ bếp, tủ áo, kệ tivi theo chiều ngang | Áp dụng cho chiều cao và chiều sâu bao nhiêu? Vượt chuẩn tính thế nào? Phụ kiện bên trong có kèm không? |
| Mét vuông mặt đứng | Tủ áo kịch trần, vách ốp | Tính theo mặt trước hay tổng diện tích ván? Có trừ phần khoét không? |
| Mét vuông sàn, trần, tường | Sàn, trần thạch cao, sơn, giấy dán tường | Có tính hao hụt không? Phần len chân tường, nẹp tính riêng hay gộp? |
| Bộ, cái | Bàn, ghế, giường, đồ rời | Kích thước, vật liệu cụ thể của "một bộ" là gì? |
| Trọn gói | Một phòng hoặc cả căn | Danh sách đầy đủ những gì nằm trong gói; cái gì không nằm trong gói? |
Tính theo mét dài dễ nhìn nhưng dễ lệch nhất, vì một mét dài tủ áo cao hai mét và một mét dài tủ áo kịch trần cao hơn nhiều là hai khối lượng ván khác hẳn nhau. Luôn yêu cầu ghi rõ kích thước chuẩn áp dụng cho đơn giá mét dài.
Mô tả vật liệu thế nào là đủ để kiểm
Phần mô tả quyết định bạn có thể nghiệm thu được hay không. Một dòng đồ gỗ đủ chi tiết nên trả lời được các câu dưới đây:
- Lõi: loại ván (MFC, MDF, HDF, plywood, gỗ tự nhiên), có chống ẩm không, độ dày thân và độ dày hậu tủ.
- Bề mặt: melamine, laminate, acrylic, veneer hay sơn; mã màu hoặc mã vân; một mặt hay hai mặt.
- Cạnh: loại nẹp cạnh và độ dày, dán máy hay dán tay.
- Phụ kiện: loại bản lề (thường hay giảm chấn), loại ray ngăn kéo (bi, âm, giảm chấn), tay nâng, thanh treo, đèn trong tủ.
- Mặt đá, kính, gương (nếu có): loại, độ dày, gia công cạnh.
- Tiêu chuẩn phát thải: theo công bố của nhà sản xuất ván, nếu bạn quan tâm; ghi đúng chữ trên công bố, không ghi chung chung.
- Xuất xứ hoặc nguồn ở mức nhà cung cấp chấp nhận ghi, để bạn có căn cứ khi kiểm.
Những cụm như "ván cao cấp", "phụ kiện nhập", "sơn tốt" cần được thay bằng tên loại. Nếu bên báo giá ngại ghi, hãy đề nghị gắn dòng đó với một tấm mẫu có chữ ký hai bên.
So hai báo giá: quy về cùng một mặt bằng trước khi nhìn tổng tiền
Hai báo giá cho cùng một căn hộ có thể chênh nhau đáng kể, và lý do thường không phải một bên "ăn dày" mà là hai bên báo cho hai thứ khác nhau. Trước khi kết luận, bạn lập một bảng đối chiếu: cột trái là danh sách hạng mục theo bản vẽ, hai cột kế là từng báo giá ghi khối lượng, vật liệu và thành tiền.
Khi điền bảng, bạn sẽ thấy các khoảng trống: bên A có trần phòng ngủ, bên B không; bên A tính tủ áo kịch trần, bên B tính cao hai mét; bên A dùng bản lề giảm chấn, bên B dùng loại thường; bên A đã gồm vận chuyển lắp đặt, bên B ghi riêng ở cuối. Lấp các khoảng trống bằng cách hỏi lại từng bên, rồi mới so tổng.
Ví dụ giả định: báo giá A thấp hơn B, nhưng sau khi bổ sung các dòng còn thiếu và nâng phụ kiện cho bằng nhau, A lại cao hơn. Điều này rất hay gặp. Cũng có trường hợp ngược lại, sau khi quy đổi, một bên vẫn thấp hơn rõ; lúc đó hỏi tiếp về nguồn vật liệu, thời gian bảo hành, tiến độ và năng lực xưởng, vì một mức giá quá thấp đôi khi đi kèm cắt giảm ở chỗ khó thấy.
Những dòng hay vắng mặt trong báo giá
Các khoản dưới đây thường không nằm trong đơn giá từng món, và nếu báo giá không nhắc tới thì sẽ quay lại dưới dạng phát sinh. Hỏi rõ từng khoản đã gồm hay chưa:
- Vận chuyển từ xưởng đến công trình, phí bốc vác lên tầng, phí thang máy hàng theo quy định toà nhà.
- Lắp đặt tại công trình, đặc biệt với đồ rời mua kèm.
- Tháo dỡ đồ cũ, phá dỡ trần, sàn cũ và vận chuyển phế thải.
- Bảo vệ công trình: che sàn, cửa, thiết bị có sẵn trong lúc thi công.
- Vệ sinh sau thi công, mức vệ sinh thô hay vệ sinh hoàn thiện.
- Phí đăng ký thi công, tiền đặt cọc thi công với ban quản lý chung cư (nếu có).
- Thuế giá trị gia tăng và hoá đơn.
- Chi phí thiết kế, giám sát nếu không tách riêng.
- Điện, nước dùng trong lúc thi công.
Không phải khoản nào cũng phải do nhà thầu chịu, có khoản gia chủ tự lo hợp lý hơn. Điều quan trọng là phân chia được ghi ra, để không ai bất ngờ.
Với căn hộ chung cư, khoản liên quan đến toà nhà như giờ được dùng thang máy chở hàng, phí đăng ký, tiền đặt cọc thi công, quy định về đổ phế thải thường do ban quản lý đặt ra và khác nhau giữa các toà. Hỏi ban quản lý trước, rồi chuyển thông tin cho các bên báo giá, để mọi báo giá cùng tính trên một điều kiện. Nhà phố thì để ý chỗ tập kết vật liệu, việc chở hàng qua ngõ nhỏ phải trung chuyển bằng xe nhỏ hay khuân tay, vì những chi phí này có thật và thường không có trong đơn giá.
Ví dụ giả định: một tủ áo được cấu thành từ những khoản nào
Để hiểu vì sao hai tủ áo cùng kích thước có thể chênh giá nhiều, hãy tách một tủ thành các cấu phần. Đây là ví dụ giả định, không có số tiền, chỉ nhằm cho thấy cấu trúc: ván thân và hậu (loại lõi, độ dày, chống ẩm hay không); bề mặt và cạnh (melamine rẻ hơn acrylic hay sơn nhiều lớp, cạnh dán máy hay dán tay); phụ kiện (bản lề, ray, thanh treo, tay nâng, đèn trong tủ); gia công (cắt, khoan, dán cạnh, lắp thử tại xưởng); vận chuyển và lắp đặt; và phần quản lý, lợi nhuận của đơn vị làm.
Trong các cấu phần đó, phụ kiện và bề mặt thường là chỗ thay đổi lớn nhất khi so hai báo giá. Một bộ tủ dùng ray bi thường và bản lề thường có thể rẻ hơn đáng kể so với cùng tủ ấy dùng ray âm giảm chấn và bản lề giảm chấn, mà nhìn từ ngoài khi đóng cánh thì giống hệt nhau. Chênh lệch chỉ lộ ra sau vài trăm lần đóng mở.
Hiểu cấu phần cũng giúp bạn cắt giảm thông minh khi ngân sách eo hẹp. Thay vì hạ cấp ván thân, thứ khó thay về sau, bạn có thể chọn bề mặt đơn giản hơn ở mặt trong tủ, giảm số ngăn kéo (ngăn kéo tốn phụ kiện hơn đợt cố định), hoặc bỏ đèn trong tủ và lắp sau. Mỗi lựa chọn nên được ghi lại thành dòng điều chỉnh trên báo giá.
Câu hỏi gửi lại trước khi chốt báo giá
Sau khi đọc xong, bạn gom các câu hỏi thành một danh sách. Những câu đáng hỏi nhất thường là: đơn giá này có hiệu lực đến khi nào; nếu giá vật liệu thay đổi trong lúc thi công thì xử lý thế nào; khối lượng tính theo bản vẽ hay theo đo thực tế khi nghiệm thu; khi đổi vật liệu sang loại khác thì đơn giá thay đổi ra sao; có dòng nào là "tạm tính" không và khi nào chốt.
Dòng "tạm tính" cần đặc biệt chú ý. Đó thường là những hạng mục chưa đủ thông tin như thiết bị chưa chọn, mặt đá chưa chọn loại, hay khối lượng phá dỡ chưa rõ. Một báo giá có nhiều dòng tạm tính là báo giá có biên độ thay đổi lớn; bạn nên biết tổng giá trị các dòng ấy để tính phần dự phòng.
Cuối cùng, báo giá đã chốt nên trở thành phụ lục của hợp đồng, đi kèm bộ bản vẽ và tấm mẫu vật liệu. Ba thứ ấy cùng nhau mới là định nghĩa đầy đủ của "cái bạn mua".
Câu hỏi thường gặp
Có nên chọn báo giá rẻ nhất không?
Chỉ khi đã quy các báo giá về cùng hạng mục, cùng vật liệu, cùng phụ kiện và cùng các khoản kèm theo. Sau quy đổi mà vẫn rẻ hơn rõ thì hỏi thêm về nguồn vật liệu, bảo hành và năng lực sản xuất trước khi quyết định.
Báo giá theo mét dài có đáng tin không?
Đáng tin nếu ghi rõ kích thước chuẩn áp dụng (cao, sâu), phụ kiện kèm theo và cách tính phần vượt chuẩn. Thiếu các điều này, mét dài dễ thành con số đẹp nhưng không so sánh được.
Khối lượng nghiệm thu theo bản vẽ hay theo thực tế?
Thoả thuận trước trong hợp đồng. Đồ đóng thường tính theo bản vẽ đã duyệt; sơn, sàn, trần hay tính theo đo thực tế. Nếu tính theo thực tế, nên có biên bản đo khối lượng ký hai bên.
Có cần báo giá ghi rõ thương hiệu phụ kiện không?
Ghi chủng loại và tính năng (bản lề giảm chấn, ray âm giảm chấn, tải trọng ray) là phần cốt lõi. Ghi thêm nguồn hoặc tên sản phẩm giúp dễ kiểm hơn; nếu bên báo giá ghi "tương đương", nên thoả thuận ai quyết định thế nào là tương đương.
Báo giá có thời hạn hiệu lực là vì sao?
Vì giá vật liệu và nhân công thay đổi theo thời gian. Thời hạn hiệu lực cho biết bên báo giá cam kết giữ mức đó đến khi nào. Nếu dự định khởi công muộn, hỏi trước cách điều chỉnh khi hết hạn.
Thuế có nằm trong báo giá không?
Không mặc định. Nhiều báo giá ghi giá chưa thuế. Nếu bạn cần hoá đơn, hỏi rõ tổng tiền đã gồm thuế giá trị gia tăng chưa và ghi vào hợp đồng để tránh chênh lệch lúc thanh toán.