NoiThat.netNội Thất
Bếp và phòng ăn

Bàn ăn tròn, vuông, chữ nhật hay oval: chọn theo kích thước phòng và số người ngồi

Bàn tròn hợp mâm cơm chung, bàn chữ nhật dễ xếp sát tường, oval nằm giữa. Cách đo phòng, tính chỗ ngồi, khoảng lùi ghế và chọn dáng bàn cho bữa cơm nhà Việt.

Top-down view of a round wooden dining table with shared dishes in the center and six bowls around it, Vietnamese family meal, warm overhead light

Dáng bàn ăn nên chọn theo hai thứ trước khi tính đến kiểu dáng đẹp: khoảng trống thật của phòng sau khi trừ chỗ lùi ghế, và cách nhà bạn ăn cơm. Bàn tròn hợp bữa cơm Việt có nhiều đĩa chung đặt giữa, vì ai cũng với tới; bàn chữ nhật dễ kê sát tường, dễ nối dài thêm khi có khách; bàn vuông gọn cho hai đến bốn người; bàn oval là đường giữa, giữ được sự gần gũi của bàn tròn mà vẫn dài như bàn chữ nhật.

Lỗi thường gặp nhất không nằm ở dáng bàn mà ở chỗ mua bàn vừa khít phòng, quên rằng mỗi chiếc ghế cần một khoảng để kéo ra, ngồi xuống và đứng dậy. Bài này đi qua cách đo, bảng kích thước tham khảo theo số người, ưu nhược của từng dáng với nếp ăn cơm chung, và cách chọn bàn mở rộng cho nhà thỉnh thoảng đông người. Mọi con số là mức thường gặp, nhà bạn cần đo lại bằng thước.

Đo phòng trước, chọn bàn sau

Bắt đầu từ vùng đặt bàn chứ không từ cả căn phòng. Đo khoảng trống giữa các vật cố định: tường, cửa sổ có cánh mở vào, cửa ra ban công, tủ bếp, chân cầu thang, lối đi từ cửa chính vào trong. Ghi cả những thứ có cánh mở như cửa tủ lạnh, cửa tủ ly, vì cánh mở ra cũng chiếm chỗ đúng lúc người ta đang ngồi ăn.

Từ mép bàn ra tới tường hoặc vật cản, khoảng tham khảo để kéo ghế ngồi thoải mái là khoảng 75–80 cm. Nếu phía sau ghế còn là lối đi, người khác cần lách qua khi có người đang ngồi, khoảng này nên lên khoảng 90–110 cm. Phía không đặt ghế, như cạnh bàn kê sát tường, chỉ cần đủ lối đi bình thường. Như vậy một chiếc bàn chữ nhật 140 × 80 cm, ghế ở cả bốn phía, cần một vùng trống chừng 300 × 240 cm, lớn hơn nhiều so với kích thước của chính chiếc bàn.

Một cách kiểm nhanh không tốn tiền: lấy băng dính giấy dán hình mặt bàn lên sàn, đặt những chiếc ghế đang có vào, rồi cả nhà thử ngồi, thử đứng dậy, thử bê một nồi canh đi vòng qua. Chừng mười phút là biết bàn định mua có quá to hay không, chính xác hơn mọi bản vẽ.

Kích thước tham khảo theo số người

Mỗi người ngồi ăn thường cần khoảng 60 cm chiều ngang mặt bàn (thoải mái hơn là 65–70 cm) và chừng 35–40 cm chiều sâu để đặt bát, đĩa, cốc. Từ đó ra các kích thước hay gặp:

Số ngườiBàn tròn (đường kính)Bàn vuôngBàn chữ nhậtGhi chú
270–80 cm70–80 cm—Hợp góc ăn sáng, căn hộ một người
490–110 cm90–100 cmkhoảng 120 × 75–80 cmCỡ phổ biến nhất trong căn hộ
6120–130 cm—khoảng 160–180 × 85–90 cmBàn tròn trên 120 cm bắt đầu khó với đĩa giữa
8140–150 cm130–140 cm (ít gặp)khoảng 200–220 × 90–100 cmBàn tròn cỡ này thường cần mâm xoay
10 trở lêntừ khoảng 160 cm, có mâm xoay—từ khoảng 240 cmÍt nhà dùng hằng ngày; cân nhắc bàn mở rộng

Chiều cao mặt bàn ăn phổ biến khoảng 72–76 cm, mặt ghế khoảng 43–47 cm. Khoảng chênh giữa mặt ghế và mặt bàn quanh 27–30 cm là mức nhiều người ngồi thấy vừa; ít hơn thì đùi chạm đà bàn, nhiều hơn thì khuỷu tay bị nâng lên khi ăn. Đây là số tham khảo, người cao hoặc thấp hơn trung bình nên thử ngồi trước khi mua.

Bàn tròn và bữa cơm có đĩa chung

Ai cũng với tới giữa bàn. Bữa cơm Việt thường có nồi cơm, bát canh và vài đĩa thức ăn chung. Trên bàn tròn, khoảng cách từ mỗi người tới tâm bàn như nhau, nên không ai phải nhờ chuyền đĩa. Đây là lý do bàn tròn vẫn được nhiều gia đình đông người chọn dù chiếm diện tích khó tận dụng hơn.

Ngồi thêm người dễ. Bàn tròn không có góc, xếp thêm một chiếc ghế chỉ cần dịch các ghế khác một chút. Bàn chữ nhật thì người thứ bảy phải ngồi ở góc, chân vướng chân bàn.

Giới hạn về đường kính. Khi đường kính vượt chừng 120–130 cm, đĩa ở giữa lại xa tầm tay, phải thêm mâm xoay. Mâm xoay giải quyết chuyện gắp nhưng làm bàn cao thêm một lớp, khó lau và chiếm chỗ đặt bát.

Khó ép sát tường. Bàn tròn đặt sát tường thì mất một chỗ ngồi và để lại hai khoảng trống hình nêm ở hai bên khó dùng. Bàn tròn hợp nhất khi đặt giữa một vùng vuông vắn, có thể đi vòng quanh.

Chân trụ giữa gọn hơn bốn chân. Bàn tròn có một chân trụ giữa cho phép xếp ghế ở bất kỳ vị trí nào mà không vướng chân bàn; bàn tròn bốn chân thì số ghế thoải mái bị khoá theo khoảng giữa các chân. Đổi lại, chân trụ cần đế đủ rộng và nặng để bàn không chòng chành khi có người tì tay ở mép.

Bàn chữ nhật, vuông và oval: khi nào hợp hơn

Bàn chữ nhật hợp với phòng dài và hẹp, nhất là phòng ăn kéo dài theo chiều sâu nhà ống hoặc dải giữa bếp và phòng khách trong căn hộ. Nó có thể kê một cạnh dài sát tường hoặc sát quầy để tiết kiệm lối đi, hai đầu bàn để trống khi ăn ít người. Điểm yếu là người ngồi hai đầu xa đĩa ở đầu kia; nhiều nhà xử lý bằng cách chia đồ ăn thành hai đĩa nhỏ thay vì một đĩa lớn, hoặc chọn bàn rộng vừa phải, khoảng 80–90 cm, để hai người đối diện cùng với tới giữa.

Bàn vuông hợp với hai đến bốn người và vùng ăn vuông vắn. Hai bàn vuông giống nhau là một lựa chọn linh hoạt: ngày thường kê riêng, một bàn làm bàn ăn và một bàn làm bàn việc, khi có khách ghép lại thành bàn chữ nhật dài. Bàn vuông lớn hơn khoảng 110 cm thì tâm bàn khá xa, cũng có vấn đề như bàn tròn quá cỡ.

Bàn oval có hai đầu bo tròn, không có góc nhọn, nên lối đi quanh mượt hơn và ít va hông, hợp nhà có trẻ nhỏ chạy quanh. Với cùng chiều dài, bàn oval ngồi được gần bằng bàn chữ nhật, nhưng đặt sát tường thì kém gọn hơn. Ở phòng ăn hẹp, bàn chữ nhật bo góc là phương án trung gian: giữ được hình dạng dễ xếp mà bớt góc cạnh.

Bàn mở rộng: lợi và những điều cần kiểm

Nhà ngày thường bốn người, cuối tuần hoặc ngày giỗ lên tám mười người là trường hợp rất phổ biến. Bàn mở rộng giải được bài toán đó, nhưng có vài điều phải kiểm khi xem bàn:

  • Đo không gian ở trạng thái mở. Bàn chữ nhật 140 cm mở thành 180 cm thì vùng trống cũng phải tính theo 180 cm cộng khoảng lùi ghế. Nếu khi mở bàn chắn mất lối ra ban công hay cửa bếp, việc mở bàn sẽ thành phiền toái và ít khi được dùng.
  • Cơ chế mở. Có kiểu cánh giữa gập đôi cất ngay trong lòng bàn, kiểu kéo hai đầu thêm tấm rời, kiểu cánh lật thả xuống hai bên. Kiểu tấm rời phải có chỗ cất tấm phẳng, không cong vênh vì nồm ẩm. Thử mở và đóng ngay tại cửa hàng, một người có làm được không.
  • Mặt bàn khi ghép có phẳng không. Lướt tay qua mối nối, xem có gờ hay khe. Khe lớn là chỗ cơm và nước canh lọt xuống, khó lau.
  • Chân bàn có nằm đúng chỗ khi mở. Một số bàn khi kéo dài, chân vẫn ở vị trí cũ nên phần mở thêm bị võng hoặc người ngồi giữa vướng chân bàn. Bàn mở dài nhiều thường cần chân phụ ở giữa.
  • Mặt bàn dùng vật liệu gì. Bàn mở rộng mặt đá hay kính thường nặng, cơ chế chóng mòn hơn; mặt gỗ hoặc ván phủ bề mặt nhẹ hơn, dễ thao tác hằng tuần.

Khi bàn ăn còn kiêm bàn làm việc và bàn học

Ở căn hộ nhỏ, bàn ăn hiếm khi chỉ dùng ba bữa. Buổi sáng là chỗ ăn sáng, ban ngày là chỗ mở máy tính, buổi tối là chỗ con làm bài. Khi bàn kiêm nhiều việc, dáng chữ nhật hoặc oval thường dễ dùng hơn bàn tròn, vì có cạnh thẳng để hai người ngồi cạnh nhau cùng nhìn một màn hình hay một cuốn vở, và có một đầu bàn để dồn đồ khi dọn cơm.

Chiều sâu mặt bàn từ khoảng 80 cm trở lên giúp đặt máy tính xách tay mà vẫn còn chỗ tì tay. Cần tính trước ổ điện: một ổ cắm âm sàn hoặc ổ trên tường gần mép bàn tránh được dây kéo ngang lối đi, nơi người bê nồi canh nóng đi qua. Ánh sáng cũng phải đổi theo việc: đèn ăn cơm ấm và dịu, còn làm việc hay học bài cần ánh sáng đủ mạnh ở mặt bàn, có thể bổ sung bằng một đèn bàn di động.

Mặt bàn dùng cho cả ăn và viết nên có bề mặt phẳng, ít vân sâu, chịu được lau ướt nhiều lần trong ngày. Một khay hoặc hộp đựng đồ làm việc để cất nhanh trước mỗi bữa sẽ giữ cho bàn không biến thành bàn giấy thường trực.

Chọn bàn theo năm bước

Gom lại thành một trình tự để không bị dáng bàn đẹp ở cửa hàng dẫn dắt:

  1. Ghi số người ăn hằng ngày và số người đông nhất trong năm. Bàn chọn theo con số hằng ngày, phần đông người giải bằng bàn mở rộng hoặc bàn phụ.
  2. Đo vùng đặt bàn, trừ khoảng lùi ghế khoảng 75–80 cm mỗi phía có ghế, và khoảng 90–110 cm ở phía còn là lối đi. Phần còn lại là kích thước bàn tối đa.
  3. Xét nếp ăn: nhiều đĩa chung, ăn cùng giờ thì ưu tiên tròn hoặc oval; mỗi người một suất, hay ăn lệch giờ, bàn còn kiêm chỗ làm việc thì chữ nhật hoặc vuông dễ dùng hơn.
  4. Xét hình phòng: phòng vuông và đi vòng được quanh bàn thì tròn hợp; phòng dài, phải kê sát tường thì chữ nhật hoặc oval.
  5. Dán băng dính trên sàn đúng kích thước định mua, đặt ghế thật vào và thử một bữa cơm. Nếu vẫn thấy chật, giảm một cỡ hoặc chuyển sang bàn mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Phòng ăn chỉ khoảng 2,5 × 3 m thì chọn bàn nào?

Trừ khoảng lùi ghế, vùng còn lại chỉ đủ cho bàn khoảng 100 cm. Bàn tròn đường kính 90–100 cm hoặc bàn vuông 90 cm cho bốn người là hợp. Nếu một cạnh kê sát tường, có thể dùng bàn chữ nhật khoảng 120 × 75 cm, ba người ngồi, người thứ tư ngồi đầu bàn.

Mâm xoay có nên dùng cho bàn tròn gia đình?

Với bàn từ khoảng 130 cm trở lên, mâm xoay giúp mọi người lấy được đĩa giữa. Bàn nhỏ hơn thì mâm xoay chiếm chỗ đặt bát và làm bàn lộn xộn. Nếu dùng, chọn loại tháo rời được để lau bàn và cất đi những ngày ăn ít người.

Bàn tròn chân trụ có chắc không?

Chắc nếu đế đủ rộng và nặng so với đường kính mặt bàn. Thử tì tay mạnh xuống mép bàn ở nhiều điểm: bàn không nghiêng, không chòng chành là được. Mặt đá nặng trên chân trụ mảnh là tổ hợp nên thử kỹ hơn cả, nhất là nhà có trẻ hay bám mép bàn.

Bàn ăn có nên đặt sát tường để rộng lối đi?

Có, nếu ngày thường chỉ hai ba người ăn. Kê một cạnh dài sát tường tiết kiệm được khoảng gần một mét lối đi. Khi đông người, kéo bàn ra giữa. Chỉ cần để ý ổ điện, công tắc và cửa sổ ở bức tường đó để không bị bàn che mất.

Kích thước bàn ăn nào dễ bán lại hoặc dùng tiếp khi chuyển nhà?

Bàn bốn người cỡ trung, khoảng 120 × 80 cm hoặc tròn khoảng 100 cm, vừa với hầu hết căn hộ và nhà phố. Bàn rất dài hay tròn rất lớn hợp với một căn nhà cụ thể nhưng khó dùng lại ở nơi khác. Bàn mở rộng cỡ trung là lựa chọn linh hoạt cho người hay chuyển nhà.

Có quy tắc nào về khoảng cách giữa bàn ăn và bếp nấu?

Không có con số cố định, nhưng bàn nên đủ gần để bê đồ từ bếp ra trong vài bước và không phải đi qua lối người khác đang đứng nấu. Giữa bàn và đảo bếp hoặc dãy bếp, nên giữ khoảng chừng 100–120 cm để người nấu đứng làm việc mà người ngồi vẫn kéo ghế được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.