Chọn lavabo là chọn giữa năm kiểu lắp chính: đặt bàn (chậu nổi trên mặt đá), âm bàn (chậu nằm dưới mặt đá), bán âm, treo tường và chân đứng; mỗi kiểu khác nhau ở độ cao miệng chậu, mức văng nước, chỗ chứa đồ bên dưới và độ khó khi lau chùi. Với phòng tắm nhà Việt, lavabo treo tường hoặc âm bàn thường dễ sống nhất; lavabo đặt bàn đẹp nhưng cần tính kỹ độ cao mặt đá và tầm vòi.
Bài này so năm kiểu, đưa ra các kích thước thường gặp (độ cao, khoảng trống phía trước, khoảng cách với bồn cầu), cách chọn vòi hợp chậu, và những lỗi lắp đặt hay gặp như nước văng ra sàn, chậu không thoát kịp hay mặt đá đọng nước. Kích thước nêu ở đây là tham khảo; bạn đo theo người nhà và mặt bằng thật.
Năm kiểu lavabo khác nhau thế nào
Bảng so sánh dưới đây xét theo những gì người dùng cảm thấy hằng ngày, không theo giá:
| Kiểu | Điểm mạnh | Điểm yếu | Hợp với |
|---|---|---|---|
| Đặt bàn (chậu nổi) | Nổi bật, thay chậu dễ, nhiều kiểu dáng | Miệng chậu cao, nước dễ văng ra mặt đá, khe chân chậu bám bẩn | Phòng tắm khách, người thích làm điểm nhấn |
| Âm bàn | Lau mặt đá gạt thẳng vào chậu, gọn, ít khe bẩn | Cần mặt đá hoặc mặt chịu nước, mép cắt phải xử lý kỹ | Phòng tắm gia đình dùng nhiều |
| Bán âm | Mặt tủ nông hơn, vẫn có mặt bàn nhỏ | Phần chậu nhô ra dễ cụng đùi, mối nối nhiều | Phòng tắm hẹp chiều sâu |
| Treo tường | Sàn bên dưới trống, dễ lau, cảm giác rộng | Ít chỗ để đồ, cần tường chịu lực và giá treo chắc | Phòng tắm nhỏ, người lớn tuổi, xe lăn |
| Chân đứng | Che ống bên dưới, lắp đơn giản | Chân chậu chiếm sàn, khó lau quanh chân, không có chỗ chứa | Phòng tắm phụ, nhà cũ |
Lavabo liền tủ (chậu và mặt tủ đúc liền một khối) là một biến thể đáng chú ý: không có khe nối giữa chậu và mặt, rất dễ lau. Điều kiện là thùng tủ bên dưới chịu ẩm và chân tủ không nằm trong vũng nước.
Độ cao và khoảng trống: những con số thường gặp
Miệng chậu cao khoảng 80–90 cm tính từ sàn hoàn thiện. Đây là khoảng phổ biến cho người lớn; người cao trên 1,75 m thường thấy dễ chịu ở mức cao hơn, còn nhà có người thấp hoặc trẻ em hay dùng thì hạ xuống. Với chậu đặt bàn, độ cao này tính ở miệng chậu, không phải ở mặt đá, nên mặt đá phải hạ thấp tương ứng với chiều cao chậu.
Khoảng trống phía trước lavabo khoảng 70 cm trở lên. Đây là chỗ để đứng cúi rửa mặt mà mông không chạm tường hay cửa phía sau. Phòng tắm hẹp chiều ngang hay mắc lỗi đặt lavabo đối diện bồn cầu quá gần, khiến người rửa mặt phải đứng nghiêng.
Mép chậu cách bồn cầu hoặc tường bên một khoảng đủ khuỷu tay. Tâm lavabo nên cách tường bên khoảng 40–50 cm trở lên để khuỷu tay không cụng tường khi đánh răng; giữa mép lavabo và mép bồn cầu nên còn khe hở để lau được.
Chiều sâu chậu và tầm vòi phải ăn khớp. Chậu nông dưới khoảng 12 cm thường văng nước khi rửa tay mạnh. Đầu vòi nên rơi nước vào gần tâm lòng chậu; vòi quá ngắn làm nước chảy sát mép sau, tay chạm thành chậu; vòi quá dài làm nước đập vào thành trước rồi bắn ra ngoài.
Gương và kệ phía trên không được cản đầu khi cúi. Kệ hoặc tủ gương nhô sâu ngay trên chậu là chỗ cụng đầu quen thuộc. Kệ phía trên lavabo nên nông và đặt đủ cao so với miệng chậu.
Lavabo đặt bàn: đẹp nhưng phải tính ba việc
Kiểu chậu nổi trên mặt đá được ưa chuộng nhờ dáng như một chiếc bát đặt trên bàn. Việc đầu tiên phải tính là độ cao: nếu dùng mặt tủ cao như lavabo âm bàn rồi đặt thêm một chậu cao 15 cm lên trên, miệng chậu sẽ lên quá 95 cm, người rửa mặt phải nhón chân, nước chảy dọc cổ tay xuống khuỷu. Mặt tủ cho chậu đặt bàn vì thế thường thấp hơn, khoảng 70–75 cm tuỳ chiều cao chậu.
Việc thứ hai là vòi. Chậu nổi cần vòi cổ cao gắn trên mặt đá, hoặc vòi gắn tường với đường cấp nước âm tường. Vòi cổ cao phải đủ vươn tới gần tâm chậu; vòi gắn tường đẹp và dễ lau mặt đá, nhưng phải chốt vị trí ống từ lúc xây, sai vài centimet là không khớp chậu. Việc thứ ba là văng nước: chậu nông, miệng rộng, thành mỏng làm nước bắn ra mặt đá, đọng ở khe giữa chân chậu và mặt đá, lâu ngày thành viền đen.
Nếu vẫn thích chậu nổi cho phòng tắm gia đình dùng hằng ngày, chọn chậu có lòng sâu, thành hơi khum vào trong, có lỗ thoát tràn, và yêu cầu thợ xử lý kín khe chân chậu bằng keo silicone chống mốc. Với phòng tắm khách ít dùng, chậu nông dáng đẹp ít gây phiền hơn.
Âm bàn, bán âm và treo tường: chọn theo cách dùng
Âm bàn là kiểu dễ lau nhất cho phòng tắm dùng nhiều. Chậu nằm dưới mặt đá, mép đá lộ ra phía trên, nên nước và bọt kem trên mặt đá được gạt thẳng vào chậu. Mặt đá phải được cắt, mài mép lỗ khoét và đánh bóng kỹ; mặt chịu nước như đá tự nhiên, đá nhân tạo gốc thạch anh hoặc mặt đặc ruột chịu ẩm. Mặt ván phủ laminate dùng cho chậu âm thì mép cắt lộ lõi gỗ, nước ngấm vào sẽ phồng.
Bán âm cho phòng tắm nông. Một nửa chậu nằm trong mặt tủ, nửa còn lại nhô ra ngoài. Nhờ đó tủ có thể nông hơn, hợp phòng tắm có chiều sâu hạn chế. Đổi lại, phần chậu nhô ra ở độ cao ngang đùi dễ cụng khi đi ngang, và có thêm đường nối phải giữ kín.
Treo tường giải phóng sàn. Lavabo treo tường để trống sàn bên dưới, lau sàn một lượt là xong, mắt nhìn thấy phòng rộng hơn. Đây cũng là kiểu hợp với người lớn tuổi hoặc người dùng xe lăn, vì có thể để trống chỗ đặt chân. Điều kiện là tường đủ chắc: tường gạch đặc, tường bê tông, hoặc tường thạch cao có khung gia cường riêng đúng vị trí giá treo. Nên chọn bộ xi phông gọn, mạ đẹp vì nó lộ ra.
Lavabo góc cho phòng tắm rất nhỏ. Ở phòng tắm khoảng 2,5–3 m², chậu góc chiếm ít chỗ đi lại. Nó nhỏ, nên chỉ hợp rửa tay, đánh răng; không hợp người rửa mặt kỹ hay gội đầu tại chậu.
Vòi, xi phông và thoát tràn: phần nhỏ quyết định độ bền
Chậu đẹp mà phụ kiện đi kèm kém thì vẫn hỏng sớm. Những điểm nên kiểm khi chọn và khi nhận lắp:
- Lỗ vòi và kiểu vòi khớp nhau. Chậu một lỗ dùng vòi một tay gạt; chậu ba lỗ dùng vòi rời nóng lạnh; chậu không lỗ cần vòi gắn mặt đá hoặc gắn tường.
- Có lỗ thoát tràn hay không. Lỗ thoát tràn giúp nước không trào khi lỡ quên vòi. Nếu chậu không có, phải dùng nắp thoát loại không đậy kín (thoát tự do) để tránh tràn.
- Xi phông có bẫy nước chặn mùi. Ống chữ P hoặc chữ U giữ một lớp nước chặn mùi từ đường ống. Ống mềm kiểu ruột gà lắp thẳng, không có đoạn uốn giữ nước, thường là nguyên nhân phòng tắm có mùi.
- Van khoá góc dưới chậu. Mỗi đường nóng, lạnh nên có van khoá riêng dưới chậu để thay vòi mà không phải khoá tổng.
- Dây cấp có lõi chịu áp và đầu nối chắc. Dây rẻ dễ phồng, nứt sau vài năm, nước rỉ âm thầm vào thùng tủ.
- Đường keo quanh chậu và quanh chân vòi. Keo silicone chống mốc, đi liền, không đứt quãng.
Khi nhận lắp, xả nước đầy chậu rồi rút nắp cho thoát hết một lần, sau đó soi bên dưới bằng đèn pin xem có giọt nước nào ở mối nối không. Kiểm ngay lúc thợ còn ở đó dễ hơn nhiều so với phát hiện thùng tủ phồng sau ba tháng.
Vị trí lavabo: trong phòng tắm hay đưa ra ngoài?
Nhiều căn hộ và nhà phố Việt Nam chọn đưa lavabo ra ngoài phòng tắm, đặt ở hành lang hoặc góc giữa phòng ngủ và phòng tắm. Cách này có lợi rõ: một người tắm, người khác vẫn rửa mặt, đánh răng được; lavabo không bị hơi nước làm mờ gương; người lớn tuổi rửa tay không phải bước vào sàn ướt. Với gia đình đông người, buổi sáng ít phải xếp hàng.
Đổi lại, lavabo ngoài cần đường cấp thoát nước đi tới vị trí đó, sàn quanh lavabo nên dùng vật liệu chịu nước (gạch hoặc sàn chống nước, không dùng sàn gỗ công nghiệp thường), và phải chấp nhận nước văng nhẹ quanh khu vực. Nếu ống thoát phải đi xa trục chính, cần đủ độ dốc, tránh đường ống dài nằm ngang dễ tắc.
Khi giữ lavabo trong phòng tắm, ưu tiên vị trí gần cửa nhất, xa vùng sen nhất, để người chỉ rửa tay không phải đi sâu vào trong. Nếu phòng tắm có cửa sổ, đặt lavabo cạnh cửa sổ giúp mặt được chiếu sáng tự nhiên khi soi gương, nhưng lưu ý gương không được che cửa sổ. Dù đặt ở đâu, lavabo cũng nên ở chỗ có ổ điện an toàn gần đó cho bàn chải điện, máy cạo râu, theo đúng quy định vùng an toàn điện trong phòng tắm và do thợ điện lắp.
Câu hỏi thường gặp
Lavabo âm bàn hay đặt bàn dễ vệ sinh hơn?
Âm bàn dễ vệ sinh hơn rõ rệt vì không có khe giữa chậu và mặt đá phía trên; nước, bọt kem, tóc trên mặt đá được gạt thẳng vào lòng chậu. Lavabo đặt bàn có viền chân chậu tiếp giáp mặt đá, là chỗ đọng nước và bám bẩn, cần lau riêng và giữ đường keo kín.
Chiều cao lavabo bao nhiêu là hợp lý?
Miệng chậu cách sàn hoàn thiện khoảng 80 đến 90 cm là mức phổ biến cho người lớn. Người cao có thể nâng lên, nhà có trẻ em hay người thấp thì hạ xuống hoặc dùng bục bước. Với chậu đặt bàn, nhớ trừ chiều cao chậu khi tính độ cao mặt tủ.
Lavabo treo tường có chịu được người tì tay lên không?
Chịu được nếu lắp đúng: giá treo hoặc bu lông bắt vào tường gạch đặc, bê tông, hoặc khung gia cường trong tường thạch cao. Tường thạch cao không gia cường hoặc tường gạch rỗng mà bắt vít nở nhựa thường không đủ. Nhà có người lớn tuổi hay tì tay, nên hỏi thợ về giá đỡ gia cường và tải trọng.
Vì sao lavabo có mùi hôi dù đã lau sạch?
Nguyên nhân hay gặp là xi phông không có bẫy nước chặn mùi, ống thoát đi thẳng hoặc dùng ống ruột gà không có đoạn uốn, hoặc bẫy nước bị cạn vì lâu không dùng. Cặn xà phòng và tóc tích trong xi phông cũng gây mùi. Tháo rửa xi phông định kỳ và thay đúng loại có bẫy nước thường giải quyết được.
Có nên chọn lavabo không có lỗ thoát tràn?
Có thể, nhiều mẫu chậu dáng đẹp không có lỗ thoát tràn. Khi đó nên dùng nắp thoát loại luôn mở hoặc nắp nhấn có chế độ không đậy kín, để tránh tràn khi quên khoá vòi, nhất là nhà có trẻ nhỏ. Nếu hay xả đầy chậu để ngâm đồ, chọn chậu có lỗ thoát tràn sẽ an tâm hơn.
Mặt tủ lavabo nên làm bằng gì để không phồng?
Mặt chịu nước như đá tự nhiên, đá nhân tạo gốc thạch anh, mặt đặc ruột hoặc gốm đúc liền chậu là lựa chọn bền nhất. Thùng tủ bên dưới nên dùng vật liệu chịu ẩm, cạnh được dán kín, chân tủ cách sàn hoặc treo tường để khỏi đứng trong nước. Ván thường không chống ẩm dùng dưới lavabo hay phồng ở cạnh sau vài mùa nồm.