Gạch sàn phòng tắm nên là loại hút nước thấp (thường là porcelain, gạch xương đồng nhất), bề mặt mờ hoặc nhám có chỉ số chống trượt phù hợp với sàn ướt; gạch tường có thể bóng hơn để dễ lau. Khổ gạch sàn chọn theo cách tạo dốc về ga thoát, và ron nên chọn loại chống thấm, màu trung tính để không lộ bẩn. Bốn quyết định này ảnh hưởng tới an toàn và công lau dọn nhiều hơn màu sắc hay hoa văn.
Phần dưới giải thích các thông số in trên hộp gạch và catalogue, cách thử nhanh tại cửa hàng, cách chọn khổ gạch cho sàn tắm có độ dốc, ron và keo dán, và kiểm hàng khi nhận. Những ngưỡng tiêu chuẩn nêu ở đây là nguyên lý chung; con số cụ thể của từng mẫu gạch xem theo công bố của nhà sản xuất.
Ceramic, porcelain và gạch xương đồng nhất: khác nhau ở độ hút nước
Gạch ốp lát được phân nhóm chủ yếu theo độ hút nước, tức phần trăm khối lượng nước mà viên gạch hút vào khi ngâm. Theo hệ phân loại của tiêu chuẩn quốc tế ISO 13006 (và tiêu chuẩn châu Âu tương đương), nhóm có độ hút nước không quá 0,5% thường được gọi là porcelain; gạch ceramic thông thường có độ hút nước cao hơn, nhất là loại dùng ốp tường. Độ hút nước thấp nghĩa là xương gạch đặc, ít lỗ rỗng, chịu lực và chịu mài mòn tốt hơn, ít thấm bẩn.
Với phòng tắm, sàn là chỗ cần gạch hút nước thấp nhất, vì sàn vừa ướt thường xuyên vừa chịu tải và mài mòn. Tường không chịu tải, nên gạch ceramic ốp tường hút nước cao hơn vẫn dùng được, miễn là lớp men bề mặt kín. Tuy vậy, gạch ốp tường thường mỏng và mềm hơn; đừng mang gạch ốp tường lát sàn chỉ vì thích màu.
Gạch xương đồng nhất (thân gạch cùng màu từ mặt xuống đáy) có ưu điểm là khi mẻ góc, chỗ mẻ không lộ màu khác. Gạch porcelain phủ men hoặc in kỹ thuật số thì thân và mặt có thể khác màu. Ở sàn tắm hay rơi chai lọ, đây là chi tiết đáng hỏi.
Đọc chỉ số chống trơn trên hộp gạch
Chống trơn là thông số quan trọng nhất của gạch sàn tắm nhưng cũng hay bị bỏ qua. Có vài hệ đo khác nhau; người bán có thể ghi theo một trong số này:
| Hệ đo | Cách đo (nguyên lý) | Đọc thế nào | Gợi ý cho phòng tắm gia đình |
|---|---|---|---|
| Hệ R (tiêu chuẩn Đức DIN 51130) | Người mang giày đi trên tấm gạch phủ dầu, nghiêng dần đến khi trượt | R9 thấp nhất đến R13 cao nhất | Thường thấy R10–R11 cho sàn ướt; lưu ý phép đo này dùng giày, không phải chân trần |
| Hệ A, B, C (DIN 51097) | Đo bằng chân trần trên mặt ướt | A thấp, B trung bình, C cao | Sát với phòng tắm nhất vì người tắm đi chân trần; sàn vùng tắm nên từ B trở lên |
| Con lắc (pendulum, PTV) | Thiết bị con lắc quét qua mặt gạch ướt | Số càng cao càng ít trơn | Dùng nhiều ở Anh, Úc; hỏi người bán nếu catalogue ghi chỉ số này |
| Hệ số ma sát (COF/DCOF) | Đo lực ma sát trên mặt gạch | Số càng cao càng bám | Một số nhà sản xuất Mỹ công bố DCOF; so sánh trong cùng hệ đo |
Không nên so sánh trực tiếp con số giữa các hệ đo khác nhau. Nếu hộp gạch không ghi chỉ số nào, xem đó là gạch chưa công bố khả năng chống trơn và đừng dùng cho vùng tắm. Một cách thử nhanh tại cửa hàng: xin một viên mẫu, đổ chút nước, xoa chân trần hoặc lòng bàn tay lên; mặt gạch "rít" nhẹ thì ổn, trơn như kính thì không hợp sàn tắm.
Khổ gạch sàn tắm phải theo độ dốc về ga
Sàn vùng tắm phải dốc, và gạch phải theo được độ dốc đó. Sàn vùng tắm dốc nhẹ về ga thoát. Nếu ga tròn đặt giữa, sàn dốc bốn hướng như một cái phễu nông; gạch khổ lớn không uốn được theo bốn mặt phẳng nghiêng, nên phải cắt chéo theo kiểu phong bì, tạo nhiều đường cắt và mép gồ.
Gạch khổ nhỏ và mosaic theo dốc bốn hướng dễ dàng. Gạch khoảng 30 × 30 cm trở xuống, nhất là mosaic dán lưới, ôm theo mặt dốc tự nhiên. Ron nhiều cũng tăng độ bám chân. Đổi lại, nhiều ron hơn nghĩa là nhiều đường cần vệ sinh; nên đi kèm ron chống thấm, chống bám bẩn.
Thoát sàn dài cho phép dùng gạch khổ lớn. Khi dùng thoát dạng thanh đặt sát tường hoặc dọc vách, sàn chỉ cần dốc một hướng, gạch khổ lớn như 60 × 60 cm hay 60 × 120 cm lát được mà không cắt chéo. Đây là lý do nhiều phòng tắm hiện đại dùng thoát dài: ít ron, sàn liền, dễ lau.
Một khổ gạch cho cả phòng hay đổi khổ ở vùng tắm. Nhiều nhà chọn gạch lớn cho phần sàn khô và tường, còn vùng tắm dùng mosaic hoặc gạch nhỏ cùng tông màu. Cách này vừa giữ cảm giác liền mạch vừa giải quyết dốc và chống trơn đúng chỗ cần.
Ron gạch: xi măng, epoxy và chọn màu
Ron là đường mạch giữa các viên gạch, cũng là chỗ đầu tiên đen, mốc và thấm trong phòng tắm. Ron gốc xi măng phổ biến, dễ thi công, giá mềm, nhưng có lỗ rỗng nên hút nước và bám bẩn; nên chọn loại có phụ gia chống thấm và chống nấm, và có thể phủ thêm chất chống thấm bề mặt ron sau khi khô. Ron epoxy gồm nhựa và chất đóng rắn, gần như không hút nước, chống bám bẩn và hoá chất tốt hơn, nhưng khó thi công hơn, đòi thợ quen tay và phải lau sạch ngay khi chà, vì epoxy khô trên mặt gạch rất khó gỡ.
Với sàn vùng tắm và tường quanh vòi sen, ron epoxy hoặc ron xi măng cải tiến có chống thấm là đáng đầu tư. Tường vùng khô có thể dùng ron xi măng thường. Độ rộng mạch ron theo khuyến nghị của nhà sản xuất gạch; gạch cắt cạnh thẳng (mài cạnh) cho phép mạch nhỏ, còn gạch cạnh thường cần mạch rộng hơn để bù sai số kích thước.
Màu ron quyết định phòng trông sạch bao lâu. Ron trắng tinh trên sàn tắm sẽ ngả màu nhanh nhất. Ron xám nhạt, be, hoặc màu gần với màu gạch giấu bẩn tốt hơn và làm mặt sàn liền mạch. Ron tương phản (gạch trắng ron đen) tạo hiệu ứng đồ hoạ, hợp tường hơn sàn, và đòi hỏi mạch thẳng tuyệt đối vì mọi lệch lạc đều lộ.
Gạch tường phòng tắm: tiêu chí khác sàn
Gạch ốp tường không chịu bước chân nhưng chịu nước bắn, xà phòng và hơi nóng. Những điểm cần cân nhắc:
- Bề mặt dễ lau. Men bóng hoặc bán bóng lau cặn xà phòng dễ hơn mặt nhám. Mặt quá sần ở vùng sen là chỗ giữ cặn.
- Khổ gạch theo chiều cao phòng. Gạch khổ đứng chạy dọc kéo trần cao lên; gạch khổ ngang làm phòng hẹp trông rộng hơn.
- Tính trước vị trí đường cắt. Chia gạch sao cho hàng cắt nằm ở chỗ ít thấy như sát trần, sau cửa, chứ không ngay tầm mắt hay ngay giữa vách vòi sen.
- Hốc âm tường và gờ cạnh. Hốc ốp cùng gạch, cạnh hốc dùng nẹp góc hoặc mài vát cạnh gạch thay vì để lộ cạnh thô.
- Ốp tới trần hay ốp lửng. Ốp cao tới trần dễ vệ sinh và chống ẩm đều; ốp lửng phần trên sơn thì phần sơn phải là sơn chịu ẩm.
- Gạch trang trí điểm nhấn. Dùng ở một mảng như sau lavabo hoặc vách vòi sen; ốp cả phòng bằng gạch hoa văn đậm thường làm phòng nhỏ rối mắt.
Nếu cùng dùng một mẫu cho tường và sàn, kiểm tra mẫu đó có công bố riêng cho sàn hay chỉ dành cho tường. Nhiều mẫu gạch có hai phiên bản bề mặt: bản mờ chống trơn cho sàn và bản bóng hơn cho tường.
Kiểm gạch khi mua và khi nhận hàng
Gạch là hạng mục khó đổi khi đã lát. Một vài phút kiểm trước khi thợ mở thùng tránh được nhiều phiền toái:
- Tính số lượng dư khoảng 5–10% so với diện tích thực (nhiều hơn nếu lát chéo, gạch khổ lớn hay phòng nhiều góc), để có gạch cắt và gạch thay sau này.
- Kiểm mã lô và mã màu (shade) trên các thùng: gạch cùng mẫu nhưng khác lô có thể chênh màu nhẹ; nên lấy cùng một lô cho cả phòng.
- Mở vài thùng ngẫu nhiên, đặt các viên cạnh nhau trên sàn phẳng, nhìn chênh màu và độ phẳng; áp hai viên mặt vào nhau xem có hở giữa (cong vênh) không.
- Kiểm cạnh và góc có mẻ, nứt chân chim trên men không, nhất là gạch khổ lớn dễ vỡ khi vận chuyển.
- Giữ lại vài viên dư cùng lô, ghi chú vị trí đã dùng; khi cần thay một viên vỡ sau vài năm, tìm lại đúng mẫu đúng màu là rất khó.
- Yêu cầu thợ dùng keo dán gạch phù hợp với gạch hút nước thấp; porcelain bám vữa xi măng thường kém, dễ bong rộp sau thời gian.
Sau khi lát, gõ nhẹ khắp sàn bằng cán dao hoặc thanh gỗ; tiếng bộp rỗng là dấu hiệu dưới viên gạch không đầy keo, dễ nứt hoặc bong về sau. Kiểm ngay lúc nghiệm thu dễ yêu cầu làm lại hơn sau khi đã dọn vào ở.
Câu hỏi thường gặp
Gạch bóng có dùng được cho sàn phòng tắm không?
Không nên dùng gạch bóng kính cho sàn vùng tắm vì rất trơn khi ướt, nhất là khi dính xà phòng. Sàn phần khô xa vùng tắm có thể dùng gạch bán bóng nếu có thảm chống trượt, nhưng an toàn nhất vẫn là gạch mờ hoặc nhám có chỉ số chống trơn cho sàn ướt trên toàn bộ phòng tắm.
Gạch chống trơn có khó lau không?
Mặt nhám giữ bẩn hơn mặt bóng một chút, cần chà bằng bàn chải mềm thay vì chỉ lau khăn. Gạch chống trơn chất lượng tốt có bề mặt nhám vi mô nên vẫn lau được dễ dàng. Mặt nhám quá thô dùng ở bể bơi thì không cần thiết cho phòng tắm gia đình, vừa khó lau vừa thô chân.
Ron gạch phòng tắm bị đen có phải do ron kém không?
Thường do kết hợp ron xi măng hút nước, sàn không khô kịp, thông gió kém và cặn xà phòng làm nền cho nấm mốc. Ron epoxy hoặc ron chống thấm giảm hẳn tình trạng này, nhưng thông gió và gạt khô sàn sau khi tắm vẫn là việc cần làm. Ron đã đen sâu có thể phải cào ra làm lại.
Có nên lát gạch khổ lớn 60 × 120 cm cho phòng tắm nhỏ?
Có thể, nếu sàn dùng thoát dạng thanh để dốc một hướng và thợ quen lát gạch khổ lớn. Gạch lớn ít ron, trông liền mạch, làm phòng rộng hơn. Nếu phòng nhỏ dùng ga tròn giữa sàn, gạch lớn phải cắt nhiều và dễ gồ mép, khi đó gạch nhỏ hoặc mosaic cho vùng tắm là lựa chọn hợp hơn.
Lát gạch mới đè lên gạch cũ trong phòng tắm được không?
Đôi khi làm được với gạch cũ còn bám chắc, phẳng, không thấm, dùng keo phù hợp. Nhưng sàn sẽ cao lên, ảnh hưởng tới ngưỡng cửa, độ dốc và ga thoát; lớp chống thấm cũ cũng không được kiểm tra lại. Với sàn vùng tắm, nhiều thợ khuyên bóc lớp cũ để làm lại chống thấm. Hỏi thợ có chuyên môn trước khi quyết.
Gạch giả đá và đá tự nhiên, chọn loại nào cho phòng tắm?
Gạch porcelain giả đá hút nước thấp, ít thấm vết, chống trơn có công bố, dễ chăm hơn đá tự nhiên. Đá tự nhiên đẹp riêng từng tấm nhưng nhiều loại có lỗ rỗng, cần phủ chống thấm định kỳ và dễ ố với dầu gội, thuốc nhuộm. Với gia đình bận rộn, gạch giả đá thường thực tế hơn.